Lục Châu Học
CHƯƠNG KẾT
NHỮNG TIỀN ĐỀ
VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Nguyễn Văn Trung
Làm việc sưu tầm,
nghiên cứu này, dĩ nhiên chúng tôi nhằm một mục
đích theo một tinh thần nào đó đưa
đến sự lựa chọn cách thức làm và quan điểm
nh́n thích hợp. Để việc trao đổi được
dễ dàng hơn, chúng tôi tŕnh bày sơ lược
dưới đây những điểm trên v́ đồng ư
hay không đồng ư thực ra tùy thuộc những
điều mà chúng tôi gọi là tiền đề về
phương pháp luận. Nếu nhờ những trao
đổi ư kiến mà chúng tôi xác định
được những tiền đề này cho rơ và
đúng hơn, chúng tôi sẽ vững bước trong
những chặng đường sưu tầm nghiên
cứu tiếp sau.
Mục đích
Ban đầu chúng tôi chỉ
nhằm một mục đích thuộc văn học
sử: phục hồi một
mảng văn học mà chúng tôi cho là bị bỏ quên,
bỏ qua. Việc làm này tương đối dễ
dàng, đơn giản nếu vượt được
trở ngại chính, lớn lao hơn cả là tài liệu.
Nhưng khi t́m hiểu tại
sao nó bị bỏ qua và thấy v́ cách đánh giá dựa vào
một quan điểm văn học gắn liền
với một nếp sống th́ đă rơ chỉ phục
hồi thôi không đủ thuyết phục, phải
giải thích được mảng văn học này
xuất phát từ những tiêu chuẩn quan điểm
nghệ thuật khác, nếp sống mà nó phản ảnh
tùy thuộc vào một hoàn cảnh xă hội địa lư
chính trị cũng khác, nghĩa là văn học với
nếp sống ở miền Nam có ư nghĩa, giá trị
riêng của nó. Hiểu như vậy, chúng tôi thấy không
thể không đề ra mục đích thứ hai, phức
tạp hơn nhưng cũng lư thú hơn: T́m hiểu con
người ở vùng đất mới về phương
diện địa lư, chính trị, lịch sử...
Con người ở vùng
đất mới được phản ảnh trong
văn học, sử kư là con người của một
thời kỳ đă qua. Tuy nhiên, thời kỳ đă qua này
c̣n gần kề hiện tại v́ nhiều dữ kiện
của thực tế đă qua vẫn c̣n là dữ kiện
của thực tế hiện nay. Do đó t́m hiểu con
người của một thời kỳ đă qua,
nhưng vẫn c̣n liên hệ với hiện tại, có
thể góp phần t́m hiểu con người hiện
tại.
Lịch sử và thời
cuộc
Từ nhận xét trên, chúng tôi
xác định mục đích của chúng tôi là t́m hiểu
những vấn đề lịch sử vẫn liên hệ
đến thời cuộc nóng hổi. Đó là loại
vấn đề về những thực tại thuộc
tâm lư, tâm t́nh của một dân tộc hay của một
địa phương, do những yếu tố
địa lư chính trị quy định.
Những thực tại
thuộc tâm lư, tâm t́nh này có thể là điều kiện
thuận lợi hay cản trở đôi khi có tính cách
quyết định, việc đề ra hay thực hiện
những đường lối chính sách của một
chế độ chính trị. Nói cách khác, những thực
tế trên là những đặc điểm tích cực hay
tiêu cực mà một chế độ chính trị có
thể gia tăng hay giảm bớt tính cách tích cực hay
tiêu cực, nhưng không hoàn toàn là tác nhân gây ra chúng. Do đó
việc t́m hiểu nhằm phát huy những điểm tích
cực hay giảm bớt những điểm tiêu cực
là một việc đặt ra cho bất cứ chế
độ chính trị nào.
Trong công tŕnh nghiên cứu này,
chúng tôi muốn t́m hiểu những đặc điểm
về văn hóa của người miền Nam. Đó là
loại vấn đề không đụng đến
chế độ chính trị nào mà ngược lại
chế độ chính trị nào cũng có thể
đụng tới.
Vai tṛ lịch sử của
miền Nam
Việt Nam có nhiều
địa phương và rất nên t́m hiểu những
đặc điểm văn hóa của mỗi địa
phương. Nhưng miền
Nam là vùng đất đáng được chú ư hơn
cả v́ khả năng đóng góp của nó về kinh
tế trên b́nh diện cả nước. Đó là vai tṛ
lịch sử của một miền đất
đối với cả nước trong viễn
tượng phát triển chủ yếu dựa vào nông
nghiệp. Giả sử miền Bắc và vùng Tây Nguyên trong
tương lai gần có thể đề ra một
viễn tượng phát triển dựa trên kỹ nghệ
công nghiệp, miền Nam có lẽ không c̣n tầm quan
trọng mà cho đến nay nó được gán cho.
Những lề lối làm
ăn, quản lư, cai trị, lănh đạo liên quan mật
thiết với một lề lối suy nghĩ, nếp
sống văn hóa. Lề lối suy nghĩ, nếp sống
văn hóa này lại tùy thuộc phần nào vào những
điều kiện địa lư chính trị của
một hoàn cảnh. Những lề lối kể trên có
thể thích hợp với một địa phương
hay với cả nước. Nếu chỉ thích hợp
với một địa phương lại tưởng
là thích hợp với cả nước th́ thật đáng
ngại. Càng đáng ngại hơn nữa, nếu không c̣n
thích hợp với ngay cả địa phương
của nó v́ đă trở thành lỗi thời, lạc
hậu. Điều đáng lưu ư là không phải chỉ
người miền Bắc mà cả người miền
Nam sống lâu năm ngoài Bắc cũng suy nghĩ đánh
giá theo lối nh́n của miền Bắc về một
số vấn đề của miền Nam. Ngược lại,
người Bắc vào ở lâu năm miền Nam lại
nh́n như người miền Nam về những vấn
đề của miền Nam. Sự kiện này chứng
minh một quy luật địa lư chính trị: những
yếu tố nguyên lư chính trị một vùng, một
nước quy định lối nh́n, đánh giá của
người vùng đó, nước đó, bất kể là
người vùng đó nước đó hay vùng khác,
nước khác. Chúng tôi đă tŕnh bày hai trường
hợp cho thấy rơ nhận xét trên trong mối quan hệ
trung ương - địa phương thời cựu
trào (triều đ́nh Huế - Lê Văn Duyệt, Lê Văn
Khôi và thời Pháp thuộc
(phủ Toàn quyền Hà Nội và Hội đồng
quản hạt Nam Kỳ). Người Pháp ở Hà Nội
nh́n các vấn đề miền Nam khác người Pháp
ở Sài G̣n và do đó thường có những căng
thẳng thực sự giữa họ với nhau.
Trường hợp nhận định, đánh giá Cao
đài cũng vậy (Đào Trinh Nhất, Trần Huy
Liệu, L.Marty và Lalaurette, Vilmont).
Tiến tới một cái nh́n
bao quát về văn hóa
Vậy cần có một cái
nh́n bao quát cả nước về văn hóa. Bao lâu
những nét đặc điểm biểu lộ qua
những sinh hoạt văn hóa của miền Nam chưa được
nhận diện và được đưa vào viễn
tượng thống nhất bao gồm tất cả những
nét đa dạng th́ sự chậm trễ này vẫn c̣n là
một trở ngại đáng kể gây t́nh h́nh căng
thẳng nguy hiểm trong các tâm trí và làm tŕ trệ việc
đề ra những đường lối thích hợp
hiệu nghiệm. Mục đích công tŕnh này nhằm nêu
những vấn đề kể trên, hoặc nói thẳng
ra, đưa vấn đề Nam Bắc ra phân tách nghiên
cứu một cách khoa học để tháo gỡ, giải
tỏa những lề lối suy nghĩ, đánh giá đôi
khi chỉ là thiên kiến, góp phần xây dựng một
nhận thức xác đáng về miền Nam trong cái nh́n bao
quát cả nước về văn hóa.
Một cái nh́n về văn hóa
chưa thực sự bao quát cả nước, nghĩa là
chưa có tầm mức quốc gia là một cản
trở cho việc đề ra, thực hiện những
chính sách đường lối thuộc nội bộ,
đồng thời cũng bày tỏ một t́nh trạng
chậm tiến lạc hậu về nghiên cứu trên b́nh
diện giao lưu văn hóa với quốc tế. Chúng tôi
được biết có những nhà nghiên cứu ở các
nước bạn, chuyên về Đông Nam Á chú ư tới
một vài nhân vật ở miền Nam mà họ coi như
những nhân vật Đông Nam Á về chính trị hay
văn hóa. Có thể họ đă phát hiện
được những điều ǵ mới làm cơ
sở cho việc đánh giá đúng những nhân vật này,
những nhân vật mà ở trong nước cho đến
nay vẫn là "bụt nhà không thiêng" không
được nói đến, hoặc khi được
nói đến, đă có sẵn những bản án chỉ
việc đọc lên mà thôi.
Chúng tôi nghĩ rằng
những vấn đề văn hóa Việt Nam, những
nhân vật lịch sử Việt Nam nên được
người Việt Nam nghiên cứu, càng sâu càng tốt
một cách khoa học nhằm đánh giá đúng và nghiên
cứu trước người ngoài, không nên đợi
người ngoài làm việc đó, rồi sau không có cách nào
khác là phải chấp nhận nói theo họ nếu
những công tŕnh nghiên cứu của người ngoài
thực sự là nghiêm chỉnh, có cơ sở. Đi vào
công tŕnh nghiên cứu này, chúng tôi cũng cố gắng
thể hiện tinh thần nghiên cứu tuân theo những
tiêu chuẩn nghiên cứu thường được
thế giới công nhận. Chúng tôi tạm mượn
từ "Lục châu học" để xác định
công tŕnh nghiên cứu này. Từ này chỉ nên
được hiểu như một công tŕnh nghiên cứu
một đối tượng tương đối c̣n
mới mẻ, chưa được khai thác bao nhiêu,
cũng bằng những phương pháp của các nhà khoa
học xă hội: địa lư chính trị, sử học,
dân tộc học, xă hội học, tâm lư học, triết
học văn hóa v.v... Tuyệt nhiên không có ư chỉ thị
một đối tượng riêng biệt với
những phương pháp riêng biệt nhằm đề cao
đối tượng, hoặc là coi đối
tượng như thuộc một vùng văn hóa riêng,
chẳng hạn văn hóa đồng bằng sông Cửu
Long.
Chúng tôi đề nghị ba
tiêu chuẩn để phân vùng văn hóa:
1- Văn hóa gắn liền
với một dân tộc, một sắc tộc; ví dụ:
văn hóa Khmer bên cạnh văn hóa Việt Nam. Văn hóa
Việt Nam so với văn hóa Trung Quốc v́ Việt Nam là
một dân tộc khác dân tộc Trung Hoa.
2-Cơ sở hạ tầng kinh tế có những nét
đặc biệt.
3- Cả hai yếu tố 1, 2 kéo dài trong thời gian
đủ lâu để h́nh thành một nếp sống
văn hóa riêng. Hiểu như trên, chúng tôi cho rằng không
một địa phương nào thuộc dân tộc
Việt Nam có đủ ba tiêu chuẩn trên để có
thể được phân thành vùng văn hóa riêng.
Có thể t́m hiểu những
nét đặc điểm về văn hóa ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long nhưng không thể có
một nền văn hóa đồng bằng sông Cửu
Long. Cũng vậy, có thể t́m hiểu những nét văn
hóa riêng vùng Huế, gọi là Huế học, nhưng không
nên chủ trương có một nền văn hóa Phú Xuân.
Tinh thần nghiên cứu
Chúng tôi muốn thực
hiện một công tŕnh nghiên cứu trong tinh thần khoa
học, nghĩa là chấp nhận thực tế, t́m
hiểu nó có thể nào nói lên như thế. Đây không
phải là điều dễ làm v́ bước vào đề
tài này rồi, chúng tôi mới thấy đụng phải
những thành kiến văn hóa mà chúng tôi đă tiếp
nhận từ trước. Do đó chấp nhận
thực tế, có sao nói vậy đ̣i hỏi một chút can
đảm trí thức dám nói những điều không phù
hợp với những thiên kiến, lối nh́n quen
thuộc không phải v́ lập dị, thích nói cái mới
lạ ngược đời, mà v́ chính việc tiếp xúc
với thực tế, tác phẩm bắt buộc phải
xét lại những thiên kiến, cái nh́n quen thuộc.
Nếu không làm như vậy, chắc chắn không đóng
góp ǵ cho việc thực hiện những mục đích
kể trên.
Nhưng chấp nhận
thực tế, nghiên cứu nó một cách khoa học có sao
nói vậy không phải chỉ để phục vụ
những mục đích này nọ, dù chính đáng cao cả
thế nào đi nữa... mà trước hết v́ đ̣i
hỏi của chính việc nghiên cứu khoa học hiểu
như một việc làm chuyên môn nhằm tiếp cận
với sự thật. Động cơ thôi thúc
người làm nghiên cứu chuyên môn là ư hướng về
sự thực, ước muốn biết được
một chút sự thực cũng như động cơ
thúc đẩy nghệ sĩ sáng tác là ước muốn
tạo ra một tác phẩm có giá trị nghệ thuật.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy những công tŕnh
nghiên cứu, sáng tác sau này trở thành những thành quả
đáng kể của gia tài văn hóa dân tộc hay nhân
loại h́nh như đều thuộc về các tác giả
đă thực hiện những tác phẩm nghiên cứu sáng
tạo của ḿnh mà không hề bận tậm tới
những mục tiêu ngoại tại đối với
việc xây dựng tác phẩm, hoặc có bận tâm cũng
vẫn để cho tinh thần muốn biết sự
thực, hoặc tạo ra một nghệ phẩm có giá
trị thúc đẩy, chi phối trong quá tŕnh xây dựng
thực hiện tác phẩm. Trái lại có biết bao
những dự định, mục đích tốt
được tuyên xưng mà rút cục chính tác phẩm làm
ra lại không đáng kể.
Thực ra xă hội chỉ
đ̣i người nghiên cứu hiểu như một chuyên
viên, hoặc một nghệ sĩ, hoàn thành tốt
đẹp công tŕnh nghiên cứu sáng tạo của ḿnh, và
điều này hoàn toàn tùy thuộc người nghiên
cứu, sáng tạo. C̣n sau khi đă hoàn thành, công tŕnh tác
phẩm được sử dụng thế nào, lúc nào,
ở đâu, đến mức độ nào, điều
này không hoàn toàn tùy thuộc người nghiên cứu, sáng
tạo. Tuy sự thực là sự thực, nghệ
thuật là nghệ thuật, nhưng không phải v́ thế
mà phải nói lên sự thực với bất cứ ai,
bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu v́ cũng
phải nghĩ tới một đ̣i hỏi chính đáng
khác: chiếu cố khả năng điều kiện, t́nh
h́nh tiếp nhận của người đọc,
người xem. Nếu xă hội phải tôn trọng
quyền t́m kiếm sáng tạo của nhà nghiên cứu,
nghệ sĩ. Nhà nghiên cứu, nghệ sĩ cũng
phải trân trọng những niềm tin, xác tín của
người đọc, người xem, đôi khi ngay
cả những niềm tin mà ḿnh coi là thiên kiến, sai
lầm... Ngoài ra, khi tác phẩm đă được
phổ biến rồi, tác dụng của nó thế nào
ở nơi người tiếp nhận càng không tùy
thuộc tác giả. Một tác phẩm tốt nhằm
mục đích tốt, có thể được
người tiếp nhận sử dụng một cách
thật tốt, nhưng cũng có thể được
sử dụng trái với mục đích tốt của tác
giả như trường hợp một vài công tŕnh nghiên
cứu về chiến tranh cách mạng ở Phi châu do
một số nhà dân tộc học tiến bộ thực
hiện đă bị những lực lượng tổ
chức chống cách mạng lợi dụng ngoài ư muốn
của tác giả. Buijtenhuijs dẫn chứng công tŕnh nghiên
cứu của ông về cuộc nổi dậy của
sắc dân "Mân Màu" ở Kénya mà ông tưởng là có
ích cho cách mạng v́ nhằm phục hồi uy tín của
những người mà thực dân vẫn coi là man rợ,
nhưng khi sách xuất bản rồi, ông mới thấy
thực sự nó có lợi cho những ai. "Trong phân tách
của tôi về cuộc nổi dậy Mâu Mâu, tôi đă rút
ra nhu cầu phải có trí thức trong hàng ngũ những
kẻ nổi dậy nếu muốn cách mạng thành công.
Phân tách của tôi đă làm cho một số lănh tụ cách
mạng chú ư đến việc đào tạo cán bộ
trước khi phát động khởi nghĩa vũ trang.
Trong trường hợp này, phân tách của tôi là có ích cho
cách mạng. Nhưng than ôi! Những thế lực thực
dân đế quốc cũng lợi dụng những phân
tích của tôi. Chúng đưa ra khẩu hiệu: Chúng ta hăy
diệt bọn trí thức trước khi chúng trở thành
nguy hiểm. Đó là chính sách thực dân Bồ ở Angola
và phân tách của tôi đă biện minh cho chính sách của
chúng. Tôi sợ rằng các cơ quan t́nh báo đế
quốc có nhiều thời giờ để đọc hơn
các lănh tụ cách mạng và v́ thế những công tŕnh nghiên
cứu của chúng tôi có thể phục vụ mục tiêu
phản cách mạng nhiều hơn. (L'anthropologie
révolutionnaire, somment faire. Tạp chí "Les temps modernes"
số đặc biệt về "Anthropologie et
Impérialisme" Juin - Juillet 1971, P. 2357-2358)
Nhiều bài thơ của
Rimbaud mang tính chất phê phán Kitô giáo quyết liệt, rơ
rệt lại làm cho một người đọc Paul
Claudel trở lại đạo và trở thành một nhà
thơ mộ đạo nổi tiếng. Nhưng biết
đâu Thơ của Claudel mang tính chất ca tụng Kitô
giáo lại chẳng làm cho một người Kitô giáo nào
đó bỏ đạo (chẳng hạn v́ không ưa
những lựa chọn chính trị của Claudel?).
V́ tác dụng của tác
phẩm thường vượt ra ngoài ư muốn của
tác giả, nếu không thể quy định trách nhiệm
cho tác giả và kết luận tác giả chỉ nêu chú tâm
vào việc hoàn thành thật tốt tác phẩm theo đúng
những đ̣i hỏi tiêu chuẩn của tinh thần
nghiên cứu khoa học hoặc của sáng tác nghệ
thuật mà thôi như Marx đă nói đâu đó trong Tư
bản luận: "Người làm khoa học với
một một mục đích không nằm trong bản thân
khoa học mà ở ngoài khoa học th́ một con
người như thế, tôi gọi là con người
đê tiện".
Cách làm
Bạn đọc hẳn
nhận thấy những ǵ chúng tôi đă tŕnh bày chưa
phải là nội dung một cuốn sách về văn
học sử học Việt Nam hay về miền Nam mà chỉ
là một hồ sơ chuẩn bị soạn thảo
những công tŕnh trên bằng cách cung cấp, giới
thiệu tài liệu, đề nghị một vài
hướng nghiên cứu, v́ c̣n thiếu nhiều dữ
kiện, cần nhiều nỗ lực giải thích, nên
không thể vội làm một tổng hợp ngay
được. Thực ra, chúng tôi rất dè dặt
đối với những bộ thông sử về văn
học, lịch sử Việt Nam mà chúng tôi đă
được đọc, v́ thiếu tài liệu, cơ
sở kiểm chứng, nên có thể chỉ là chép lại
của nhau những sai lầm, những thiên kiến,
khẳng định vô bằng. Chúng tôi nghĩ đến
một vài bậc đàn anh đi trước như Cadière,
Nguyễn Văn Tố, Lê Thọ Xuân đă nêu gương
về một thái độ khiêm tốn, dè dặt trong
việc nghiên cứu, biên soạn sử Việt Nam. Không ai
phủ nhận đó là ba người am hiểu nghiêm
chỉnh lịch sử Việt Nam. Họ đă viết
rất nhiều nhưng lại ít thấy xuất bản
thành sách, hầu như chỉ để lại toàn
những bài báo. (LM Cadière và cụ Nguyễn Văn Tố,
nhiều người đă biết tiếng rồi, riêng
cụ Lê Thọ Xuân ít được biết đến v́
là người miền Nam. Chúng tôi ghi lại đây cảm
tưởng của một người nghe cụ nói
chuyện về sử, cho thấy cụ cẩn thận,
tỉ mỉ thế nào: "Nghe ông nói, tưởng là
biết rồi, hóa ra chưa, v́ tác giả, dẫn chứng
tài liệu, kể đến đâu, chỉ rơ tên lúc ấy
tên sau đó và tên bây giờ. Diễn giả bày tài liệu
một cách tỉ mỉ rạch ṛi đến nỗi
nhiều thính giả ngó nhau lắc đầu, lè lưỡi!
Theo dấu Cao Hoàng -Cuộc diễn thuyết về
lịch sử theo ông Lê Thọ Xuân do Hội Nam Kỳ trí
dục thể dục tổ chức ngày 11-9-1943. Báo Thanh niên do ông Huỳnh
Tấn Phát chủ trương số 3 ngày 18-9-1943 SAIGON)
Thiết tưởng yêu
cầu đề ra là làm sao thực hiện
được thật nhiều những đặc
khảo, chuyên đề (monographies) về một tác
giả, một tác phẩm của tác giả, về một
vấn đề của tác phẩm, về một trào
lưu v.v... như những mảng, mảnh vụn
để sau này sẽ ghép những mảnh vụn thành
mảng, nhiều mảng thành bộ (như bộ chén,
bộ bát). Ở đây chúng tôi chưa làm được
những đặc khảo, mới chỉ thiết
lập một hồ sơ phác họa những đặc
khảo mà chúng tôi mong rằng chính chúng tôi và các nhà nghiên
cứu khác sẽ thực hiện sau này.
Tính chất của một
hồ sơ là luôn luôn có thể bổ túc thêm do đó, chúng
tôi mong rằng tập biên khảo này sẽ được
đánh giá như một hồ sơ c̣n đang thiết
lập, chưa phải một công tŕnh hoàn tất.
Thiết lập hồ sơ
dựa vào tài liệu giới thiệu tŕnh bày tài liệu
một cách trung thực để người đọc
trực tiếp tiếp xúc với tài liệu (tác phẩm,
tác giả, sự kiện), rất tiếc ở đây
mới chỉ là tiếp xúc với lược tóm tài
liệu, chưa phải là đọc chính tài liệu nguyên
bản... Làm như vậy, chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi
muốn tỏ ra tôn trọng người đọc,
để người đọc tự ư xem xét và duyệt
lại ư kiến của ḿnh chỉ v́ thực tế
bắt buộc mà thôi, tránh được những va
chạm tự ái vô ích. Bàn cờ người ta vẫn
chơi, căn pḥng người ta vẫn bày biện dù hay
dù dở thế nào thường vẫn không thích
người khác xía vô góp ư phê phán. Nhưng nếu bày một
bàn cờ khác theo một kiểu chơi khác, trang trí căn
pḥng theo một lối khác, rồi mời người ta
chơi thử, vào xem, có thể người ta sẽ chú ư
và chấp nhận lối chơi, trang trí của ḿnh.
Tóm lại, điều cốt
yếu chúng tôi cố gắng bằng mọi cách thực
hiện là t́m ra văn bản, tài liệu. Chẳng hạn,
để chứng minh Tố Tâm, Việt Nam Sử
lược không phải là những cuốn tiểu
thuyết, sử kư đầu tiên bằng văn xuôi
quốc ngữ viết theo lối Tây phương, chỉ
cần giới thiệu, tŕnh bày những cuốn văn,
sử xuất bản ở miền Nam vào những năm
1879, 1887, 1910, 1920 v.v...
C̣n về ư kiến giải
thích, ai cũng có thể nêu lên sau khi đă tiếp cận
với tác phẩm. Chúng tôi đă nêu lên một số ư
kiến, giải thích mà chúng tôi coi như những giả
thuyết, gợi ư, đề nghị. Rất có thể sau
này đọc thêm tài liệu chính chúng tôi sẽ bác bỏ
những ư kiến giải thích đă đưa ra ở
đây... Bạn đọc có thể đồng ư hay không
với những nhận định giải thích của
chúng tôi sau khi đă tiếp xúc với tác phẩm tài
liệu, nhưng nếu chưa được đọc
chính bản văn, làm sao có ư kiến ǵ được. Do
đó chúng tôi thực sự mong muốn có điều
kiện công bố những tài liệu (bản văn, nguyên
văn) đă sưu tầm được.
Những b́nh diện
a. B́nh diện địa lư
chính trị.
Chúng tôi đă tŕnh bày trong
phần đầu về thiên kiến miền Nam không có
truyền thống văn hóa, không phải đến năm
1985 người ta mới nói, mà đă có người nói
thế từ năm 1915, 1916, 1930, 1960... Vậy thiên
kiến trên không tùy thuộc vào sự khác biệt về
thế hệ hay thể chế chính trị, mà chỉ tùy
thuộc những yếu tố vẫn tồn tại qua
các thế hệ, thể chế chính trị. Chúng tôi
gọi những yếu tố đó là yếu tố
địa lư chính trị. Miền Nam và miền Bắc có
những yếu tố địa lư chính trị khác nhau. Bao
lâu sự khác biệt về địa lư chính trị
vẫn c̣n, vẫn c̣n những nếp sống, thái
độ nhận thức khác nhau. Người ở vùng
đất cũ (miền Bắc) vào ở lâu vùng
đất mới (miền Nam) phải thay đổi
nếp sống cũng sẽ thay đổi thái độ
nhận thức thích ứng với những điều
kiện địa lư chính trị của vùng đất
mới. Từ một thực tế khách quan như
thế, có thể rút ra những quy luật và những quy
luật này có giá trị chung cho cả các trường
hợp tương tự trên thế giới, v́ không
phải chỉ ở Việt Nam mới có hiện
tượng di dân từ vùng đất cũ vào vùng
đất mới. Quan sát hiện tượng này ở các
nơi khác và đối chiếu với thực tế
Việt Nam, sẽ thấy những điểm giống và
khác nhau.
Chẳng hạn đọc
cuốn "Mỹ quốc sử lược" của
sử gia Francis Whitney biên soạn với sự cộng tác
của nhiều giáo sư đại học Mỹ (Bản
dịch của Sở Thông tin Hoa Kỳ Saigon không đề
năm xuất bản) chúng tôi thấy mấy điểm
sau đây:
Giới di dân: Giới khá giả tự đài
thọ và thợ giỏi, nông dân nghèo.
Nguyên nhân: T́nh cảnh thất
nghiệp thời kỳ đầu tư bản phát
triển (1620 - 1835). Anh quốc lâm vào một khủng
hoảng kinh tế, thợ giỏi cũng chỉ
đủ ăn, mùa màng thất thu, kỹ nghệ len
sợi phát triển cần nguyên liệu, nghề chăn
nuôi cừu thiếu đất chăn nuôi...
Động cơ mục
đích: T́m cơ hội thuận tiện hơn để
làm ăn, khao khát tự do tín ngưỡng, nhất là
những nhóm theo Thánh giáo muốn cải tổ Anh giáo, thoát
khỏi kiềm tỏa chính trị độc tài của
nhà vua, sức quyến rũ của cuộc phiêu lưu.
Tác
động của vùng đất mới
Lối sống nhấn
mạnh vào các quan hệ cá nhân hơn các quan hệ tập
thể, chặt chẽ, g̣ bó. Tự túc tự quản, ít
nhờ đến chánh quyền, làm việc tùy lúc tùy nơi
theo sở thích chống sự kiểm soát chặt chẽ,
chính sách ban hành các đạo luật sắc thuế
một cách độc đoán, mong muốn thực hiện
một lư tưởng chính trị phù hợp với
thực tế và không chịu sự cai trị bằng
những luật pháp ban hành cách xa từ hàng chục ngàn
dặm, mâu thuẫn giữa đại diện chính
quốc và tự trị địa phương...
Tâm lư con người
Con người
được đánh giá không phải bằng gốc gác
gia đ́nh, ḍng họ, nhưng bằng tài năng mà thôi,
được "khuyến khích có sáng kiến cá nhân, góp
phần tạo ra dân chủ kinh tế và chính trị, phát
sinh thái độ cương quyết, phá bỏ thái
độ bảo thủ nuôi dưỡng một tinh
thần tự quyết địa phương đi
đôi với sự tôn trọng quyền lực quốc
gia." (trang 65)
Con người th́ "có
cử chỉ cục mịch nhưng hiếu khách rất
tử tế đối với những người xa
lạ, lương thiện và đáng tin cậy." (trang
66)
Ở đây chúng tôi chưa làm
được một nghiên cứu đối chiếu
để hiểu rơ hơn miền Nam. Chỉ nêu lên
nhận xét về một điểm khác biệt căn
bản về thành phần di dân ở Việt Nam, đó là
những người gốc nông dân thuộc một chế
độ, xă hội dựa trên nền kinh tế nông
nghiệp c̣n nhiều tàn dư của kinh tế nguyên
thủy, tự túc, thiên về tiêu xài, trong khi di dân từ Âu
châu sang Mỹ đă bước vào chế độ tư
bản rồi.
Ngày nay về mặt văn
hóa, người Âu châu (vùng đất cũ) cũng
thường bày tỏ thái độ khinh chê người
Mỹ châu (đất mới), văn hóa thô sơ, văn
chương trơn tuột như trong nói hàng ngày. Nói
tiếng Anh, phải theo giọng Luân Đôn thôi... Lối
nh́n và đánh giá hơn kém trên cũng thấy ở Việt
Nam xuất phát từ thái độ không nhận ra và
chấp nhận sự khác biệt về sinh hoạt
văn hóa. Người ta dễ nh́n nhận sự khác
biệt về phương diện thiên nhiên (khí hậu) hay
sinh hoạt văn hóa vật chất (cách ăn, mặc,
ở) một món ăn địa phương nếu không
ăn được, th́ chỉ nh́n nhận là không hợp
thị hiếu, ít khi dám chê là thô sơ, kém cỏi...
Nhưng về phương diện sinh hoạt văn hóa
tinh thần, lại không dễ dàng chấp nhận sự
khác biệt, nên mới có đánh giá hơn kém theo tiêu
chuẩn của ḿnh và do đó có thái độ khinh chê,
tự tôn... Giải tỏa, tháo gỡ những mặc
cảm tự tôn là làm sao cho người có mặc cảm ư
thức được sự khác biệt và nhận
định được ư nghĩa, giá trị riêng
của những cái khác biệt. Nh́n nhận sự khác
biệt về địa lư chính trị giữa miền Nam
và miền Bắc, trước hết là ư thức
được sự kiện Nam tiến đă đưa
vào lịch sử dân tộc một yếu tố mới
ảnh hưởng vào mọi quyết định về
đối nội và đối ngoại. Những tranh
chấp quyền hành giữa các gịng họ không c̣n diễn
ra trong cùng một hoàn cảnh địa lư chính trị
(đồng bằng sông Hồng) mà trong hai ba hoàn cảnh
địa lư chính trị khác nhau. Chẳng hạn chiến
tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài đi đến chỗ không
dứt được v́ khoảng cách xa, vận chuyển
binh lính, hậu cần khó khăn ảnh hưởng
đến các trận đánh. Về đối ngoại,
có thêm những đe dọa khác từ bên ngoài, không phải
chỉ từ phương Bắc mà c̣n từ phương
Tây (Xiêm, Cao Miên, Âu châu)... Về giao lưu văn hóa cũng
vậy, không phải chỉ với văn hóa Trung Quốc,
mà c̣n với văn hóa Chàm, Khmer, Phật giáo tiểu
thừa (Ấn Độ).
Dưới đây chúng tôi phác họa mấy nét về
địa lư chính trị vùng đất gọi là Nam
kỳ, Lục châu. Trong mục: Nam Trung địa dư
đang trên Lục Tỉnh tân văn, thấy ghi: Xứ Nam Trung cũng kêu rằng Nam kỳ lục
tỉnh, hay Gia Định, ở gần vàm sông Cửu long
Giang (.số 7 ngày 30-12-1907
trang 5)
Mới qua cách gọi tên, chúng
ta đă thấy phần đất này của Việt Nam
bao giờ cũng mang một tên gọi riêng. Đây không
phải t́nh cờ, mà lư do chính yếu là tại phần
đất này, ngoài những đặc tính chung với các
phần c̣n lại của Việt Nam, nó có những
đặc tính riêng, chỉ nó mới có, hoặc có một
cách trội bật so với các miền khác.
Xét về phương diện
lịch sử dân tộc, đất nước Chiêm Thành cũ
chấm dứt, Nam kỳ mới bắt đầu. Nam
kỳ chính là phần đất đai mang tên gọi
Thủy Chân Lạp, nghĩa là của vương quốc
cũ dân Khmer. Nếu dân Trung kỳ, nhất là từ
đèo Hải Vân trở vào, có thể lại ít nhiều máu
Chiêm Thành - thuộc chủng tộc Mă Lai từ miền
biển Nam lên - th́ dân Nam kỳ chỉ có thể lai với
người Mên và người Tàu.
Xét về phương diện
địa lư,
nếu lưu vực sông Hồng đă làm cư dân miền
này thống nhất về nhiều mặt th́ ở Nam
kỳ, lưu vực hai con sông Đồng Nai và sông Cửu
Long có tác động tương tự nhưng mạnh
mẽ hơn nhiều. Lư do Nam kỳ nhiều sông rạch
chằng chịt, thiên nhiên tạo đă nhiều mà nhân
tạo cũng lắm. Việc lưu thông đường
thủy trong toàn vùng Nam kỳ quá dễ dàng: một con
thuyền nhỏ có thể đưa dân miền này từ
Sài g̣n xuống Cần Thơ, Long Xuyên vào bất cứ tháng
nào trong năm. Sự thống nhất tại miền Nam
kỳ cao đến độ trong 6 tỉnh Nam kỳ, cách
nói và phát âm tiếng Việt giống nhau. Trong khi dân Thanh
Nghệ nói th́ dân Nam Ngăi nghe muốn đau đầu và ngay
bây giờ dân Quảng Ngăi nói th́ dân Bắc và Nam phải chú
ư nghe hết sức mới hiểu sơ sơ...
Tính cách lưu vực một
con sông và sự lưu thông dễ dàng này tự chúng đă có
những tác động vào dân cư - không những chỉ
về mặt ngôn ngữ như đă nêu - nhiều hơn
chúng ta có thể ngờ, về giáo dục, và dĩ nhiên
cả về sắc thái chính trị nữa cùng mọi
thứ nay thường có trong danh mục về
thượng tầng kiến trúc. Thí dụ vấn
đề đấu tranh giai cấp ở Nam kỳ có
chỗ khác các miền của Việt Nam và thế giới.
Giai cấp địa chủ ở Nam kỳ không thể
(dù muốn hay không) áp bức nông dân như ở Bắc
kỳ. Làng xă Bắc kỳ đa số nằm trong vùng
ruộng ít kênh rạch, mỗi làng với lũy tre bao kín
như một pháo đài, vợ chồng chị Dậu có
bị ép dẹp lép th́ cứ đành chịu trận. Ở
Nam kỳ làng xă chạy dài theo kênh rạch, 5, 10 cây số
không phải là hiếm và chẳng có lũy tre hay rào cản
nào. Địa chủ bắt nạt là nông dân mang vợ con
xuống thuyền "đi t́m miền đất
hứa" ngay. Đầm lầy hoang vu thiếu ǵ,
sẵn sàng đợi người khai hoang. Nếu Marx có
lần nói đại khái là miền Viễn Tây hoang vu (The
Far-West, the Wild west) đă cứu giai cấp tư bản Hoa
Kỳ khỏi cuộc cách mạng vô sản thế kỷ
19, th́ cũng có thể nói hệ thống kênh rạch
chằng chịt dễ lưu thông của Nam kỳ đă
làm cho mâu thuẫn giai cấp địa chủ - nông dân
trở nên ít căng thẳng hơn các nơi khác.
Đó là mới xét về
mặt sông ng̣i kênh rạch. Nh́n ra biển, cũng có
nhiều điểm đáng ghi. Điểm thứ nhất
là Nam kỳ có chu vi tiếp xúc với Thái B́nh Dương
nhiều hơn với đất liền. Đă thế
vùng biển Nam kỳ lại yên tĩnh - ngay vào mùa băo
tố của Nam hải, cảng Sài G̣n Vũng Tàu cũng
chỉ biết băo gọi là cho có. Yếu tố này mời
gọi tàu bè quốc tế ghé tới. Chưa kể
yếu tố các tuyến đường biển Âu Á
đi sát sạt mũi Cà Mau. Bởi thế do địa lư
của ḿnh, Nam kỳ đă là cánh cửa mở của
Việt Nam ra Thái B́nh Dương, cánh cửa không thể
đóng - dù muốn hay không Tây phương cũng tràn vào
không sớm th́ muộn, không dưới chiêu bài này th́
dưới bảng hiệu khác. Nếu chỉ xét riêng khía
cạnh địa lư này thôi, chúng ta dễ dàng thấy Minh
Mạng ngây thơ khi áp dụng chính sách bế quan tỏa
cảng để ngăn chặn những con tàu Tây
phương và cũng là ngây thơ những ai nghĩ
rằng tại Nguyễn Ánh cho Bá Đa Lộc mang Đông
cung Cảnh sang Pháp cầu viện nên nước Pháp
"mới biết đến Việt Nam" để
sau này mang quân đến đánh chiếm. Chúng ta hăy nh́n ra
ngoài lănh thổ Việt Nam: Ấn Độ, Ceylan, Miến
Điện, Mă Lai bị đế quốc Anh chiếm, Phi
Luật Tân bị Tây Ban Nha rồi Hoa Kỳ chiếm, Nam
Dương quần đảo bị Ḥa Lan chiếm... th́
thử xét xem các nước ấy có Nguyễn Ánh cầu
viện hay không.
Đó là xét về mặt
thủy. C̣n xét về mặt đất liền, cũng có
điều để ghi nhận thêm. Tại bán đảo
Đông Dương, có 3 dân tộc sung măn: Việt Nam, Chiêm
Thành và Thái, Việt Nam kẹt nhất, lưỡng diện
thụ dịch: phía Bắc ḍng Hán tộc muốn tràn
xuống, phía Nam ḍng Chiêm muốn lấn lên. Việt Nam
mặt bắc chặn Trung Hoa, mặt nam đẩy lui Chiêm
Thành dần dần. Cuộc đấu tranh Việt - Chiêm
này mới đầu không đụng chạm nhiều
tới dân Thái v́ vướng vùng đệm là Lào và dăy núi
Trường Sơn. Nhưng đến khi dân Việt
dứt điểm Chiêm Thành tràn xuống Nam kỳ th́
lập tức hai dân tộc Thái Việt xung đột
liền.
Chiếc b́nh phong là dăy núi
Trường Sơn không c̣n. Chỉ c̣n lại vùng
đệm là Cao Miên, một miền trù phú chứ không
phải như vùng đệm Lào khô cằn. Một phần
v́ lư do kinh tế (muốn chiếm Miên), một phần v́
lư do an ninh quốc pḥng, ḍng Thái đương nhiên
đấu tranh với ḍng Việt. Thắng th́ bảo
hộ cao Miên, thua th́ duy tŕ Cao Miên làm vùng đệm, đó
là chính sách căn bản của ḍng Thái suốt từ
thế kỷ 18, 19 đến hiện nay. C̣n phía Việt
Nam th́ chỉ cần nh́n vào bản đồ là thấy ngay
muốn giữ chắc Nam kỳ phải có một Cao Miên
thân thiện. Không có một rào cản thiên nhiên nào như núi
ngăn che Nam kỳ với Cao Miên c̣n sông cũng không có sông
nào ngăn đôi biên giới, Cửu Long Giang với 2 nhánh
Tiền, Hậu chảy xuyên hai nước Việt - Miên
ở phần giữa, hoàn toàn thuận lợi cho việc
tiến quân. Yếu tố địa lư chính trị này
bộc lộ rất rơ trong các tính toán chiến lược
của Bộ tham mưu Thái hay của Bộ tham mưu Gia
Long - Tây Sơn như đă thấy qua tiểu thuyết
lịch sử của Tân Dân Tử.
Một điểm nữa
cần ghi là sự ph́ nhiêu của miền đất này. Trong cả nước, không
nơi nào dễ sống hơn. Việc canh tác, nhờ
hệ thống kênh rạch, không đ̣i hỏi sức lao
động quá cao. Thủy sản phong phú. Đất
dễ th́ người dễ, quan hệ giữa
người và người nhiều nhân tính hơn, con
người cởi mở dễ sống.
Phác họa một vài nét về địa lư chính
trị ở trên cho thấy hướng chúng tôi muốn
theo : t́m hiểu một thái độ đối
xử, nhận thức do những yếu tố
địa lư chính trị quy định như thế nào?
Chẳng hạn t́m hiểu tâm tính của người
miền Nam :
- Về đối xử:
thẳng thắn v́ có điều kiện khỏi phải
né tránh, hai mặt.
- Về giao lưu: thống
nhất về giọng nói, phong tục và thống nhất
về giao thông liên lạc.
- Về kinh tế văn hóa:
tự túc về văn hóa, dám nói viết theo phát âm của
địa phương v́ có tự túc về kinh tế.
- Về đối ngoại:
Cởi mở, thiên về giao thiệp với bên ngoài v́
ở ngay ngă cửa biển như thể ngă tư, mặt
tiền trông ra phố nhiều người qua lại.
Xét trên b́nh diện địa
lư chính trị khi t́m hiểu tâm t́nh, tâm lư một địa
phương, một dân tộc có nghĩa là:
1- Không để ư đến ư
đồ cá nhân v́ nh́n nhận tính khách quan của những
yếu tố địa lư.
2- Không đánh giá về mặt
đạo đức: Coi trọng, đề cao một
thái độ ở vùng này hay chê bai thái độ khác ở
vùng kia v́ chỉ cho đó là sự khác biệt do những
yếu tố địa lư chính trị quy định.
Người thẳng thắn, bộc trực hay hai mặt
chẳng qua v́ có hay không có một số điều
kiện nào đó (thẳng thắn v́ có thể bỏ ra
đi, tự túc, c̣n nếu không, bắt buộc phải
chung sống th́ cũng bắt buộc phải hai mặt).
3- Coi là tương đối
những thái độ tâm t́nh, v́ khi thay đổi hoàn
cảnh sống hoặc khi chính những điều
kiện địa lư chính trị thay đổi th́ tâm t́nh
cũng thay đổi.
4- Quy luật địa lư chính
trị chi phối những người sinh sống cư
ngụ lâu năm ở một vùng và những người
ở nơi khác đến bất kể là vùng nào,
nước nào.
Lối nh́n lịch sử và
quan điểm quần chúng.
Lối nh́n lịch sử và
quan điểm quần chúng ở trong cái bao quát của b́nh
diện địa lư chính trị. Con người làm ra
lịch sử và nếu hiểu con người theo số
đông th́ đó là quần chúng làm lịch sử tùy
thuộc những yếu tố địa lư chính trị.
Trong hồ sơ này, chúng tôi
đă muốn nh́n vấn đề nhà Nguyễn và Tây
Sơn theo những viễn tượng kể trên.
Đặt sự kiện, đối tượng muốn
t́m hiểu vào hoàn cảnh, thời đại của nó do
những yếu tố địa lư chính trị quy
định, chúng tôi nghĩ rằng có thể giải thích
được những lối nh́n khác nhau về Tây Sơn
và nhà Nguyễn.
Nhân dân miền Bắc không liên
hệ ǵ tới nhà Nguyễn, Gia Long nên cũng không gắn
bó ǵ về mặt t́nh cảm, quyền lời với
Nguyễn Ánh. Khi Gia Long ra Bắc, c̣n phản bội lời
hứa khôi phục nhà Lê... Do đó khi nêu lên mục tiêu
chống Pháp xâm lược, nêu luôn cả mục tiêu
chống nhà Nguyễn, v́ dù sao triều đ́nh các vua
Nguyễn cũng đă đồng lơa với thực dân,
hoặc khi nêu mục tiêu cách mạng phải đưa chủ
trương chống quân chủ mà triều đ́nh Huế
là tiêu biểu. Những mục tiêu trên đề ra chủ
yếu để nói với nhân dân miền Bắc, nên
dễ dàng được chấp nhận. Nhưng khi
những mục tiêu trên không c̣n đặt ra nữa và
người nghe bây giờ chủ yếu là nhân dân miền
Nam th́ phải xem xét nhân dân miền Nam nh́n nhà Nguyễn
thế nào... Chúng tôi thấy trong sách, báo, truyện thời
kỳ đầu thế kỷ bằng quốc ngữ có
đề cao vua quan nhà Nguyễn và trong dân gian, có nhiều
lăng, đền thờ các danh nhân nhà Nguyễn. Một
người sống ở miền Bắc chỉ cảm
thấy mối đe dọa từ phương Bắc, coi
người Tàu như kẻ thù truyền thống của
dân tộc, không thể hiểu được thế nào là
"Cáp duồn". Nhưng người miền Nam
lại coi những người Việt gốc Hoa,
người Minh Hương ở thôn quê như những
người đồng hương v́ những
người gốc Hoa đă "nhận nơi này làm quê
hương", nếu không thế làm sao có
được những Trịnh Hoài Đức, Bổn Bang?
Ngoài ra, người miền Nam lại cảm thấy
mối đe dọa từ phương Tây (Xiêm, Cao Miên).
Những người như Lê Văn Duyệt đă khai phá
vùng đất này, giữ ǵn bờ cơi, an ninh trật
tự trong mười mấy năm trời cầm
quyền không để cho quân Xiêm, Cao Miên xâm phạm
đất Gia Định, diệt trừ nạn trộm
cướp, cai trị liêm khiết làm cho dân đủ
ăn, giàu có sau bao nhiêu năm loạn lạc, làm sao dân chúng
lại không lập đền, lăng thờ họ?
Người ta nói Lăng ông là nơi có nhiều tập
tục mê tín! Thế các lăng đền ở miền
Bắc có mê tín dị đoan không? Người dân đi
đền Trần Hưng Đạo để cầu
tự không phải là mê tín sao? Chẳng qua chỉ là vấn
đề mức độ. Phải chăng v́ tự
căn bản đă chấp nhận đề cao Trần
Hưng Đạo rồi nên phớt lờ hoặc
đặt nhẹ chuyện mê tín, c̣n Lê Văn Duyệt v́
không được chấp nhận, nên thổi phồng
lên chuyện mê tín?
Tuy nhiên chúng tôi đă lưu ư
thái độ của người miền Nam đối
với các vua nhà Nguyễn có phân biệt đối xử:
Chỉ ca tụng Gia Long lúc tấu quốc và phục
quốc, các quan văn vơ có công khai phá giữ ǵn bảo
vệ trật tự... là chủ yếu.
Riêng về Phan Thanh Giản mà
chúng tôi sẽ nói đến trong những tập sau,
nếu ở một thời điểm nhất
định, cần nêu lên tiêu chuẩn phân biệt Bạn
Thù dứt khoát, đề cao lựa chọn chiến
đấu đến cùng, không khoan nhượng, nên phê phán
Phan Thanh Giản th́ cũng là điều dễ hiểu,
nhất là chủ yếu nói với dân chúng một miền
không liên hệ ǵ với Phan Thanh Giản. Nhưng khi
những mục tiêu chiến đấu hay giáo dục chính
trị không c̣n đặt ra nữa, và đến lúc
chỉ đặt mục tiêu t́m hiểu sự thực
lịch sử và nhất là để nói với dân chúng
một miền có liên hệ mật thiết với Phan
Thanh Giản, thiết tưởng có nên xét lại một
lối nh́n, đánh giá chỉ thích hợp với một
thời điểm nhất định không?
Như chúng tôi đă nhận
xét, hầu như tất cả những ai có dịp ra
khỏi nước lúc Pháp bắt đầu can thiệp
vào Việt Nam, đều nghi ngờ chủ trương
quyết chiến đến cùng và đều nghĩ
đến một sách lược ḥa hoăn... Vấn
đề đặt ra là: có nh́n nhận sách lược ḥa
hoăn là cần thiết và chính đáng trong một số
trường hợp hay không? Nếu có nh́n nhận, nhưng
lại chỉ nh́n nhận cho ḿnh: nghĩa là khi nào tôi
chủ trương ḥa hoăn th́ sách lược ḥa hoăn là
cần thiết chính đáng và kẻ chủ trương
quyết chiến đến cùng là kẻ thù cách mạng c̣n
nguy hiểm hơn địch. Trái lại khi tôi chủ
trương quyết chiến đấu đến cùng,
th́ kẻ chủ trương ḥa hoăn là phản bội, bán
nước. Lư luận chủ quan như vậy th́ đành
chịu thua thôi.
Nhưng nếu chịu xem xét
một cách khách quan, trường hợp nào, hoàn cảnh nào
phải ḥa hoăn hay quyết chiến, th́ việc xem xét này
thuộc về nhận thức chính trị, và về
phương diện đó, bất cứ người nào
ở trong cuộc, trên cương vị lănh đạo, có
trách nhiệm đều có thể sai lầm, nhưng có
thể chỉ sai lầm về nhận thức, lựa
chọn đường lối mà vẫn giữ
được cốt cách của đạo đức
chính trị. Cứ giả sử nhận định và
lựa chọn của Phan Thanh Giản là sai lầm đi
nữa (chủ trương ḥa hoăn, nên chống lại
Trương Định) th́ cũng không thể kết án
con người ông về mặt đạo đức chính
trị, v́ ông đă lấy cái chết của ḿnh để
minh chứng cho cốt cách đạo đức chính
trị của ông. Trong truyền thống đạo lư Tây
phương bắt nguồn từ Kitô giáo, tự tử
không được coi như một giá trị đạo
đức trong bất kỳ trường hợp nào.
Nhưng trong truyền thống đạo lư Á đông, tự
tử để minh chứng cho một điều ǵ
đó mà lời nói và ngay cả sự sống cũng không
thể làm được, th́ tự tử trong những
trường hợp trên đều được coi
như giá trị đạo đức cao cả nhất.
Thực ra không dễ ǵ
đánh giá một cách khách quan trường hợp Phan Thanh
Giản và nhiều trường hợp khác tương
tự sau này (Chẳng hạn trường hợp BS
Nguyễn Văn Thịnh hoặc phản ứng
trước vụ kư hiệp ước 6-3-1946. Viết
xong tập I này, chúng tôi đọc "Chợ ??? quê
tôi" của ông Nguyễn Văn Trấn, NXB Văn
nghệ TP.HCM 1985, chúng tôi thấy lối nh́n, đánh giá Phan
Thanh Giản của một người ở địa
phương nơi Phan Thanh Giản hành sự và những
chứng từ của một người trong cuộc
đối với thỏa hiệp 6-3, đă làm cho chúng tôi
an tâm về những nhận xét chúng tôi đưa ra ở
trên (đoạn nói về PTG từ trang 52 đến 63) v́
việc đánh giá thường tùy thuộc hoàn cảnh
chủ quan của người đánh giá t́nh h́nh. Những
người ở ngoài cuộc, ở hậu phương
xa, hay sống vào những thời kỳ sau, không trực
tiếp đối đầu với địch, không
ở tư thế lănh đạo, có nhiều điều
kiện xem xét đánh giá t́nh h́nh tại chỗ, và nhất
là có ư thức trách nhiệm về hậu quả những
quyết định của ḿnh, thường có xu
hướng thiên về lối nh́n quyết chiến và do đó
phê phán những lựa chọn sách lược ḥa hoăn...
Tuy nhiên, muốn có cái nh́n khách
quan hơn, thiết tưởng có thể xem xét lối
nh́n, đánh giá của quần chúng. Quần chúng lập
đền, xây lăng, dựng tượng, đặt bia
hoặc đặt tên đường, ngơ, chợ, rạch
v.v... Đó là cách biểu lộ với mức độ
khác nhau ḷng biết ơn để tưởng nhớ, nêu
gương những người có công với làng xă,
địa phương, đất nước... Cần
lưu ư là chính dân tự động tự nguyện làm, tôn
thờ các danh nhân dân tộc cũng tương tự
đạo thờ ông bà v́ cùng một tính chất, mục
đích, tuy cũng gọi là đạo nhưng khác với
tôn giáo quen thuộc như Phật, Thiên chúa, Hồi giáo...
Trong gia đ́nh họ hàng, chủ nhà, trưởng tộc
là chủ tế các nghi lễ cúng vái ông bà, ngoài xă hội,
Tiên chỉ, Thứ chỉ những người
đứng đầu làng xă, nước làm chủ tế
các nghi lễ tôn thờ danh nhân... và hội đồng xă,
làng, nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức
việc cúng tế, bảo vệ duy tŕ các cơ sở
đ́nh chùa, lăng miếu đền thờ danh nhân.
(Nếu các cơ sở tôn giáo tư như nhà thờ thánh
thất... thường được tôn trọng theo
đúng hiến pháp về tôn trọng tự do tín
ngưỡng th́ những cơ sở tôn giáo của
đạo dân tộc mà nhà nước là chủ thiết
tưởng càng cần gây ư thức trách nhiệm tôn
trọng bảo vệ)
Quần chúng căn cứ vào
đâu để biểu lộ ḷng biết ơn, tôn kính
danh nhân? Vào tiêu chuẩn đạo đức chính trị:
làm bất cứ cái ǵ có lợi cho dân về tất cả
các mặt và giữ được phẩm giá con
người... Trường hợp những người
chống xâm lược, lo cho dân an cư lạc nghiệp,
công trạng đă rơ, ít phải bàn căi. Nhưng c̣n
trường hợp những người sống trong ḷng
địch, cộng tác với địch th́ sao? Có thể
dựa vào địch mà chống địch, lo cho dân
được không? Có, nhưng thật khó xác định
v́ thiếu ǵ kẻ miệng nói như vậy thậm chí
c̣n phê phán, chửi địch công khai, nhưng thật ra
vẫn là tay sai mà thôi. Quần chúng càng khó xác định v́
không đủ điều kiện, khả năng t́m
hiểu, đánh giá, nhưng vẫn có thể dựa vào hai
tiêu chuẩn kiểm tra: tham quyền cố vị và vinh
thân ph́ gia để thẩm định mức độ
đạo đức chính trị của những
người trong trường hợp này. Có thể nêu
trường hợp Hồ Biểu Chánh và Trương
Vĩnh Kư mà chúng tôi sẽ nói đến trong những
tập sau. Riêng Trương Vĩnh Kư, trước đây
chúng tôi đă biên soạn nhiều bài báo, sách phê phán gắt
gao ông là tay sai của Pháp . Vào thời kỳ đó chúng tôi
không hề nghĩ đến lối nh́n lịch sử,
quan điểm quần chúng. Khi thực hiện công tŕnh
biên soạn này, chúng tôi thật ngạc nhiên đọc trong
Lục Tỉnh tân văn lời hô hào quyên tiền bạc
cả lục tỉnh để dựng h́nh Trương
Vĩnh Kư. Trong lời kêu gọi, thấy xác định khá
rơ việc đánh giá Trương Vĩnh Kư: "Ông này khi
sinh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu
thế chẳng hề ỷ thế mà hại quê
hương... Đêm ngày lo đọc sách này dịch sách kia
ra cho kẻ hậu sanh để đọc. Thiệt là
quan thầy của cả Nam Kỳ." (Ông Đốc Kư,
số 29, trang 1 ngày 4-6-1908). Những người chủ
trương Lục Tỉnh tân văn như Trần Chánh
Chiếu, Đặng Thúc Liêng, lănh tụ của phong trào Duy
Tân ở miền Nam, không thể bị nghi ngờ là tay sai
của Pháp, họ lại là những người
đương thời với Trương Vĩnh Kư, nên
hiểu rơ ông hơn chúng ta ngày nay, tại sao coi
Trương Vĩnh Kư là ông Đốc Kư, thầy dạy
đạo lư của miền Nam? Một vài học giả
Pháp thời kỳ này cũng gọi Trương Vĩnh Kư
là "Cher Maître". Trong truyền thống văn hóa Pháp,
từ maître được dùng để bày tỏ sự
trân trọng đối với nhà văn, nhà báo mà
người ta kính phục về tư cách đạo
đức (De Gaulle lúc làm tổng thống viết thư
cho J.G.Sartre gọi ông là "Cher Maître)
Một người như
Trương Vĩnh Kư có thể đạt tới tuyệt
đỉnh của danh vọng quyền chức, của
cải, nhưng ông đă không "tham quyền cố
vị, vinh thần ph́ gia", cho nên tôn chỉ ông
đưa ra: Ở với họ mà không theo họ (sicvos,
non vobis, một câu cách ngôn La tinh) có thể tin
được ở nơi ông không phải là một câu nói
láo, bịp bợm... Vụ dựng h́nh không thành. Măi
đến năm 1927 mới thành, nhưng do Tây chủ
xướng. Sự kiện này cho thấy trong những
trường hợp tương tự, ta kéo một
người về với ta, th́ là người của ta,
c̣n đẩy họ về với địch, hay
để cho địch kéo về với họ, th́ họ
là người của địch.
Những sự kiện kể trên
bắt buộc chúng tôi phải duyệt xét lại việc
đánh giá Trương Vĩnh Kư. Chúng tôi không cho rằng
quan điểm quần chúng nhất thiết bao giờ
cũng đúng hết, nhưng khi t́m hiểu, có nên
chiếu cố quan điểm quần chúng không? Chúng tôi
nghĩ rằng nên. Ngoài ra, nếu không thể tách chính
trị (ư định, lập trường, mục đích)
khỏi văn hóa để t́m hiểu đánh giá về
mặt tư tưởng, th́ sau đó nên tách chính trị
khỏi văn hóa để chỉ xét những công tŕnh
văn hóa về mặt lịch sử. Cuốn sách cũ
cũng như lăng, đền, mộ, đều là
những di tích lịch sử, sự kiện vật
chất... cho đến nay, không một quốc gia nào
lại căn cứ vào ư định, mục đích
của tác giả (bất kể xấu tốt, chính
trị hay không) dù đó là những bạo chúa, để
quyết định việc nên giữ hay phá bỏ đi
di tích lịch sử, v́ nếu nh́n, đánh giá như
vậy, không c̣n di tích, bảo tàng lịch sử, thư
viện... Nếu đă nhận nguyên tắc phân biệt
trên về mặt lịch sử, th́ cũng nên áp dụng
cho mọi trường hợp, mọi người, không
phân biệt đối xử... Nếu chủ trương
bảo vệ những lăng tẩm ở Huế, th́
cũng nên bảo vệ những lăng mộ ở Sài G̣n
như Lăng Cha Cả, Lăng Ông. Nếu đă chỉ
đánh giá những Lê Quí Đôn, Nguyễn Du về văn
hóa, th́ cũng không nên bỏ qua những Trương
Vĩnh Kư, Phạm Quỳnh, Nhất Linh, Khái Hưng.
b- B́nh diện xă hội
Trước một hiện
tượng như hiện tượng tôn giáo, chúng tôi không
đứng trên b́nh diện lư luận (triết học, tôn
giáo) để t́m hiểu xem tôn giáo chủ trương
những ǵ, đúng hay sai, hợp lư hay không, mà chỉ
đứng trên b́nh diện xă hội học để t́m
hiểu tại sao có người theo tôn giáo đó, nghĩa
là chỉ chú ư tới con người, không phải giáo lư.
T́m hiểu tại sao có người theo một tôn giáo hay
nói rộng ra, theo một ư thức hệ là t́m hiểu con
người ở trong một hoàn cảnh nhất
định có những nhu cầu nào cần được
thỏa măn và tôn giáo ư thức hệ xuất hiện như
một đáp ứng những nhu cầu đó...
Đây là lối nh́n xă hội
học chú trọng đến những chức năng
của tôn giáo, ư thức hệ, nhằm lănh hội
những nhu cầu thiết yếu xuất phát từ bên
trong (nội tại) của con người. Hiểu như
vậy, tôn giáo hay ư thức hệ không phải đơn
thuần chỉ là một phản ảnh thụ
động xă hội mà c̣n có những chức năng xă
hội. Chính những chức năng này giải thích
tại sao một ư thức hệ hay tôn giáo tồn tại
dai dẳng trong lịch sử mặc dầu những
điều kiện về người, tổ chức hoàn
cảnh đă thay đổi, ngay cả trong trường
hợp người sáng lập hay lănh đạo sa
đọa, phản bội, hoặc những thể
chế, tổ chức bị phân hóa thành những phe nhóm,
giáo phái khác nhau, thậm chí thù địch nhau... nếu có
những người vẫn tin một ư thức hệ, tôn
giáo mặc dầu những lầm than sa đọa của
giới lănh đạo, thể chế tổ chức th́
sự kiện này chỉ có thể hiểu được
theo hướng coi tôn giáo ư thức hệ đó vẫn c̣n
khả năng đáp ứng những nhu cầu nào đó
của những người tin theo...
Lối nh́n trên cho thấy không
nên hời hợt, vội vă chỉ dựa vào sự sa
đọa, suy thoái về người, hoặc tổ
chức mà kết án một tôn giáo, ư thức hệ là
lỗi thời, nhất là khi chính những người theo
ư thức hệ, tôn giáo đó coi sự sa đọa, suy
thoái nhất thời như một luận cứ biện
minh tính cách chính đáng của tôn giáo, ư thức hệ, v́
ngay cả những người lănh đạo sa
đọa, phản bội, cũng đă không thể
diệt tôn giáo, ư thức hệ từ bên trong. Henri Guillemin, một nhà phê b́nh
văn học Pháp, nổi tiếng về chuyên đả
phá, giải tỏa huyền thoại các nhà văn lớn,
đă dành cuốn sau cùng của đời ḿnh để thử
xem có đả phá được huyền thoại về
ông Giêsu hay không trong cuốn "L'affaire de Jesus", nhà
xuất bản Seuil, Paris, 1982. Ông đă nhận định
như sau: Ngày nay, những người Kitô giáo không ai
chối căi những lầm than, sa đọa trầm
trọng của giáo hội trong lịch sử. Như
vậy thật vô ích nếu c̣n dựa vào những lầm
than sa đọa đó mà chỉ trích kết án Kitô giáo v́
vấn đề cần đáng t́m hiểu là: tại sao
Kitô giáo vẫn tồn tại sau bao nhiêu lầm than, sa
đọa, sai lầm? Một số nhà thần học coi
những sa đọa lầm than của giáo hội như
một luận cứ biện minh cho nguồn gốc, và
tính cách siêu nhiên của giáo hội, v́ theo họ, nếu ngay
cả những kẻ lănh đạo giáo hội mà cũng
không thành công trong việc phá hủy giáo hội từ bên
trong, th́ điều đó cho thấy giáo hội là do thiên
chúa lập ra và duy tŕ nó.>>
Dĩ nhiên phải xác
định các loại nhu cầu? Thiết thực hay
giả tạo, thiết yếu hay tùy thuộc, nhất
thời hay lâu dài gắn liền với cấu trúc hiện
hữu con người. Vấn đề đặt ra là:
tôn giáo có phải là một cách đáp ứng loại nhu
cầu gắn liền với cấu trúc hiện hữu
con người hay không?
CHỮ NHO, CHỮ QUỐC
NGỮ VÀ PHÁT TRIỂN
Khi t́m hiểu con người
miền Nam qua các tài liệu văn sử bằng quốc
ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, điều làm cho chúng tôi ngạc nhiên bắt buộc
phải lưu ư là thái
độ của giới trí thức được đào
tạo theo Tây học đối với Nho học.
Miền đất này bị
chiếm làm thuộc địa và bị phân chia với
phần c̣n lại, nên mục tiêu đề ra trước
hết vẫn là dành lại độc lập, thống
nhất như bao lần trước đó trong lịch
sử, nhưng lần này phải đề ra một
mục tiêu khác: phát triển dựa vào đ̣i hỏi
hiện đại hóa bằng cách tây phương hóa.
Nhưng tây phương hóa mà không gạt bỏ truyền
thống đạo lư dân tộc dựa trên Nho học, trái
lại vẫn coi nó như cơ sở lư luận hiện
đại hóa và chỉ tiếp thu khoa học kỹ
thuật của văn hóa Tây phương mà thôi. Đó là
hướng hành động của phong trào Minh Tân hồi
đầu thế kỷ. Tiếc thay phong trào này đă
thất bại.
Ở miền Bắc, cũng
đề ra mục tiêu phát triển, nhưng lại coi Nho
học như một cản trở hiện đại hóa
nên chủ trương gạt bỏ chữ Nho và coi
chữ quốc ngữ như phương tiện Tây
phương hóa (dịch các sách hay của văn hóa Pháp,
cổ động dùng chữ quốc ngữ về mọi
mặt sinh hoạt, thay thế chữ nôm, chữ nho).
Nguyễn Văn Vĩnh, một trong những người
tiên phong chủ trương hiện đại hóa đă nói
một câu nổi tiếng gắn liền vận
nước vào việc phát huy chữ quốc ngữ:
"Nước Nam ta mai say này hay dở cũng ở
chữ quốc ngữ".
Quả thật, sau đó 8
năm, chữ quốc ngữ ngày nay đă là chữ
viết của cả nước, được dùng
để diễn tả mọi kiến thức khoa học
tự nhiên, khoa học xă hội các cấp, nhưng
nước Nam bây giờ có hay không, nghĩa là có phát
triển không? Nếu hiểu phát triển theo nghĩa
kịp đà các nước trước đây chậm
tiến hơn Việt Nam và bây giờ vượt Việt
Nam c̣n Việt Nam vẫn là một trong những nước
nghèo nhất thế giới th́ phải nhận là dở.
Tại sao?
Gần đây, chúng tôi
được đọc bài "Khổng giáo và chủ
nghĩa tư bản" của Michis Morishima, một nhà
kinh tế học Nhật (Tạp chí Thông tin ??? số
12/1987 và cuốn "Le nouveau mondesenisé" của Léon
Vandermeersch (P.U.F. Paris 1980 ), rồi dự một buổi nói
chuyện của ông này, hiện là Giám đốc Viễn
đông Bác cổ, tổ chức ở Viện KHXH miền
Nam ngày 9/10/1990 về những trào lưu tân nho học. Qua
buổi nói chuyện này, chúng tôi được biết
một số học giả gốc Trung Quốc như Lâm
Dục Sinh, Đỗ Duy Minh, Lưu Thuật Tiên v.v...
ở các đại học Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông
thuộc thế hệ thứ ba của trào lưu kể
trên cũng cùng một luận điểm với ông và tác
giả Nhật Bản. Đây là một luận điểm
nhằm giải thích sự phát triển nhanh chóng của
một số nước ven Thái B́nh Dương (Nhật,
Nam Hàn, Đài Loan, Singapore...) có thể trở thành trung tâm
công nghiệp của thế giới vào đầu thế
kỷ XXI bằng nền tảng văn hóa: những
nước kể trên đều thuộc một cộng
đồng văn hóa Nho học, được coi như
yếu tố thuận lợi cho việc phát triển
tư bản công nghiệp.
Giải thích sự thành công
của chủ nghĩa tư bản bằng văn hóa không
phải là điều mới lạ v́ cách đây 60, 70
năm, Max Weber là người đầu tiên nêu lên luận
điểm kể trên. Theo nhà xă hội học người
Đức này, chính luận lư học của đạo Tin
lành (đặc biệt phái Thánh giáo) đă thích hợp
với việc h́nh thành và phát huy tinh thần tư bản
chủ nghĩa, trong khi luân lư học của các tôn giáo khác:
Công giáo (mặc dầu cũng là Kitô giáo), Ấn Độ
giáo, Nho giáo... đều chứa sâu những yếu tố
chống lại hay ngăn cản sự ra đời và
phát triển tư bản chủ nghĩa.
Những tác giả Nhật,
Trung Quốc, Léon Vandermeersch không bác bỏ luận
điểm của Max Weber liên quan đến Âu châu, mà
chỉ bác bỏ phần liên quan đến Á châu, nhất
là Nho học, mà theo các tác giả này lại bao gồm
những yếu tố c̣n thuận lợi hơn cả
văn hóa Âu châu cho việc phát triển tinh thần tư
bản chủ nghĩa. Ở đây chúng tôi không đi sâu
vào cuộc tranh luận này mà chỉ bày tỏ đôi
điều thắc mắc.
Trước hết, chúng tôi
không được đọc sách của các tác giả
Trung Quốc, Nhật Bản nên không rơ họ có nói
đến Việt Nam không, nhưng cuốn của Léon
Vardermeersch mà chúng tôi đă đọc, nói về cộng
đồng Nho học, lại trừ Việt Nam ra. Trong
một chương bàn về quan hệ chữ quốc
ngữ và chữ nôm, chữ nho, tác giả đi tới
một nhận xét chúng tôi công nhận là đúng. Ở
Việt Nam, việc băi bỏ chữ nho đích thực
đă giải thoát nhất loạt giới trí thức
khỏi mọi ngáng trở của văn hóa truyền
thống. Nhưng kết quả, thay v́ là một
bước nhảy của cả nước lên tŕnh
độ các nước tiên tiến, lại chỉ mở
ra cho giới thượng lưu Việt Nam những con
đường đồng hóa hoàn toàn vào văn hóa Tây phương
từng cá nhân một, bằng cách làm cho họ trở thành
mất gốc" (trang 149).
Các nước thuộc
cộng đồng nho học, không nước nào bỏ
chữ riêng của họ, trừ Việt Nam và phải
chăng v́ Việt Nam đă thành công trong việc xóa bỏ
chữ nôm, chữ nho, phổ biến chữ quốc ngữ,
nên đă mất gốc và do đó cũng không phát triển
được? Trong buổi nói chuyện, tác giả không
hề nhắc tới Việt Nam nữa, mặc dầu
kể tên những nước khác thuộc cộng
đồng nho học. Đưa ra một giải thích cho
cả nhóm cùng mẫu số chung, mà lại không giải
thích tại sao trường hợp Việt Nam không nằm
trong giải thích chung đó? Hay v́ Việt Nam không đáng
được chú ư? Thư tịch gồm 131 sách báo tham
khảo, chỉ có hai tài liệu được nhắc
đến về Việt Nam và không rơ có phải là tài
liệu nghiên cứu văn hóa? (cuốn V.C.Nguyên. Vietnam under Communism 1975 - 1982.
Stanford 1983, và Hoàng Văn Hoan. L'amitié
sino-Vietnam et la trahison de Le Duân, Pekin 1982). Thực ra
nhiều người Việt Nam nghiên cứu có nói
đến những hạn chế của chữ quốc
ngữ so với chữ nho, chẳng hạn bài: 100 năm chữ quốc ngữ,
Nguyễn Văn Xuân, tạp chí Văn, Sài G̣n số 1 năm
1967 rất đáng được lưu ư.
Ngoài ra thiết tưởng
cần nhắc lại trước khi có luận
điểm giải thích bằng văn hóa, đă có luận
điểm giải thích bằng kinh tế xă hội.
Luận điểm này có nhiều xu hướng nhưng
đều chung một vài nét tổng quát như sau: sự
xuất hiện của chế độ tư bản
đă chỉ xảy ra ở Âu châu, v́ chỉ Âu châu mới
trải qua các thời kỳ tiêu biểu cho những h́nh
thái kinh tế xă hội của diễn tiến lịch
sử nhân loại, đặc biệt có chế độ
phong kiến đưa tới chế độ tư
sản, trong khi các xă hội ngoài Âu châu đều ngưng
đọng và v́ thế phải chấp nhận sự can
thiệp, thống trị bằng bạo lực của
chế độ thực dân đế quốc
phương Tây như một tất yếu lịch sử
để có điều kiện vật chất, văn hóa
tiến lên xă hội chủ nghĩa qua tư bản
chủ nghĩa.
Chúng tôi nghĩ rằng có
lẽ không luận điểm nào đưa ra một
giải thích đúng, đầy đủ, xác đáng cho
mọi trường hợp và v́ thế phải xét từng
trường hợp cụ thể, xem những yếu
tố nào của hai luận điểm trên và của
những luận điểm khác là yếu tố thuận
lợi hay không thuận lợi, và yếu tố nào có tính
cách quyết định, hay chỉ là thứ yếu. Hai
luận điểm giải thích bằng kinh tế xă
hội và văn hóa kể trên đều do người Âu
châu đề ra và tuy khác nhau, vẫn có một điểm
giống nhau: coi Âu châu là trung tâm, mẫu mực (européocentime)
nên chỉ căn cứ vào t́nh h́nh Âu châu mà tổng quát hóa
các thực tại lịch sử của các châu khác.
Chẳng hạn, đối với Hegel, chỉ Kitô giáo là
tôn giáo (la religion). Chính v́ thế mà các nhà tư tưởng
Âu châu không c̣n thấy cần t́m hiểu nghiêm chỉnh các tôn
giáo triết học khác như Ấn Độ giáo,
Khổng giáo, Phật giáo v.v...
Việt Nam có một lịch
sử lâu đời nhưng lại có rất ít tài liệu
lịch sử, nên rất khó xác định một cách
nghiêm chỉnh những vần đề thuộc lịch
sử. Chúng tôi nghĩ rằng trước t́nh h́nh trên,
bắt buộc người nghiên cứu phải có thái
độ khiêm tốn trí thức chỉ có thể nêu lên
những giả thuyết giải thích hay những nhận
định gợi ư... Về luận điểm
phương thức sản xuất, h́nh thái kinh tế xă
hội, đă có những tranh luận xem Việt Nam có
chế độ nô lệ hay phong kiến. Chúng tôi có
cảm tưởng sự xâm lược đă đặt
đất nước vào t́nh trạng bất b́nh
thường nhưng v́ sự thống trị kéo dài quá lâu
nên t́nh trạng bất b́nh thường được coi
như thể b́nh thường. Sự kiện này có lẽ
đă làm lệch lạc hay phá hoại diễn tiến
lịch sử qua các h́nh thái kinh tế, xă hội một
cách tuần tự như đă thấy ở các nơi khác.
Việt Nam có thể có tất cả những chế
độ nô lệ, phong kiến, tư sản, nhưng do
áp đặt tự bên ngoài hay do diễn tiến tự
nhiên của ḿnh? Cái ǵ cũng có nhưng cái nào là chủ
chốt trội bật? Hoặc có thể cùng có cả
một lúc v́ cái đă có trước vẫn c̣n đó như
tàn dư, hoặc cái đáng lẽ có sau lại có
trước? Chẳng hạn nhà nước (l'Etat) có
trước quốc gia (nation) trong khi đáng lẽ
phải ngược lại. Chế độ thuộc
địa buộc phải thiết lập bộ máy nhà
nước khi các miền, bộ lạc chưa có ư
thức quốc gia. Tâm lư tiêu xài hoang phí vẫn c̣n khá
phổ biến ngày nay, đặc biệt vào các ngày lễ,
tết phải chăng biểu lộ hiện tượng
Potlatch mà Marcel Mauss đă khám phá ra khi nghiên cứu những
trao đổi giữa các xă hội cổ sơ thời
cộng đồng nguyên thủy. Xă hội nào cũng làm ra
của cải dư ít nhiều sau khi đă thỏa măn
những nhu cầu cần thiết để tồn
tại. Trong lịch sử nhân loại, có hai quan niệm
sử dụng phần dư này (Sunplus) một là của các
xă hội cổ sơ, tiền tư bản, hai là của
các xă hội từ tư bản trở về sau.
Điều khác biệt giữa hai quan niệm là một
đàng dùng phần dư vào việc tiêu xài hoang phí, một
đàng biết tích lũy, đầu tư tái sản
xuất để tăng năng xuất. Tiêu xài hệt có
tính cách phi kinh tế nhưng lại thể hiện một
chức năng xă hội: phô trương hay bảo vệ
thể diện của gia đ́nh, ḍng họ bằng
việc thách thức qua những trao đổi: biếu
phúng, hủy diệt của cải... Một vài ghi nhận
vụn vặt trên cho thấy thật rất khó xác
định Việt Nam đă có những chế độ
kinh tế xă hội nào và nếu có th́ như thế nào.
Luận điểm giải
thích dựa vào văn hóa, cũng thật phức tạp.
Đúng như Léon Vandermeersch đă nhận định:
chữ quốc ngữ thay thế chữ nho, tưởng
là đưa vào hiện đại hóa, phát triển,
nhưng lại chỉ tạo ra một giới trí thức
mất gốc.
Tuy nhiên sự kiện mất
gốc hay không mất gốc về văn hóa không thiết
yếu liên quan đến đà phát triển kinh tế.
Nếu người Việt
Nam đạt tới hiện đại hóa, tây hóa th́
đương nhiên phải phát triển được,
mặc dầu mất gốc (biến thành Tây). Vậy
nếu không phát triển được, th́ không phải v́
mất gốc mà v́ những nguyên nhân khác không phải kinh
tế hay văn hóa. Phải chăng chỉ cần thay
đổi những thể chế chính trị th́ chỉ 10
năm, 20 năm, Việt Nam phát triển được dù
có mất gốc? Tuy nhiên, nếu phát triển
được mà mất gốc th́ phải chăng đó
sẽ là một thảm họa?
Ở miền Nam, ngay từ
đầu thế kỷ, phong trào Minh Tân chủ
trương hiện đại hóa, tây phương hóa
nhưng chỉ về mặt khoa học kỹ thuật và
vẫn giữ đạo lư dân tộc dựa trên nho
học, được coi không phải như yếu
tố ngăn cản, trái lại là yếu tố thuận
lợi và như vậy, nếu phát triển
được th́ chắc không mất gốc, nhưng phong
trào cũng thất bại, tại sao?
Chúng tôi thấy nguyên nhân chính
cũng là chính trị. Ở miền Nam, phong trào Minh Tân có
những thuận lợi mà miền Bắc không có:
-
Điều kiện thiên nhiên ưu đăi, thuận
lợi về nông nghiệp, thương nghiệp nhờ
đất đai ph́ nhiêu, rộng răi, khí hậu ổn
định, kinh rạch chằng chịt dễ dàng cho
việc đi lại.
-
Dân chúng nhiều người có khả năng hùn
vốn, tiết kiệm, lập hội.
-
Chính sách cho tự do kinh doanh của người Pháp và
ước muốn của họ khích lệ việc h́nh
thành một tầng lớp tư sản bản xứ
để ḱm chế bớt sự tung hoành của giới
tư sản Tàu, Chà và mà họ sợ không kiểm soát
nổi về phương diện chính trị (đạo
quân thứ năm). Tờ Lục
Tỉnh tân văn đứng tên một người Pháp
bảo đảm về mặt chính trị cho phong trào làm
kinh tế.
Nhưng phong trào đă không
đề ra được một sách lược kết
hợp phát triển kinh tế và đấu tranh chính
trị mà vẫn giữ một phân cách để đảm
bảo sự tồn tại của hoạt động
kinh tế. Phong trào không coi phát triển kinh tế là chính, ít
ra lúc ban đầu mà chỉ coi như h́nh thức che
đậy những hoạt động chính trị,
nhằm lật đổ chính quyền thuộc
địa, v́ thế những cơ sở kinh doanh (khách
sạn, tiệm ăn, tiệm buôn v.v...) chẳng qua
chỉ là nơi cất dấu tài liệu vận
động chống Pháp, hay là địa điểm giao
liên, hội họp... Hồ sơ vụ án Trần Chánh
Chiếu cho thấy rất rơ sự vụng về, sai
lầm của phong trào: tài liệu, nhân chứng rành rành ra
đó, không chối căi ǵ được. Giả sử phong
trào biết biến ư thức chính trị thành hành
động kinh tế và tổ chức sinh hoạt kinh
tế làm sao để Tây dù có nghi ngờ cũng không
thể bắt bẻ ǵ được v́ các cơ sở
kinh doanh thực sự chỉ làm kinh doanh, biết chờ
đợi thời cơ để chuyển sang
đấu tranh chính trị (chiến tranh 1914 - 1918 chẳng
hạn) th́ t́nh thế có thể đă khác?
Tuy nhiên phong trào cũng gặp
một khó khăn nữa thuộc tâm lư dân tộc.
Người Việt Nam trong lịch sử, tỏ ra
rất giỏi về quân sự chống được
mọi xâm lược đô hộ của người
ngoài, hơn nữa cũng thông minh không thua kém ai, về
phương diện xă hội biết đùm bọc
tương trợ, nhất là khi xảy ra hoạn nạn.
Tổ chức làng xă xưa cho thấy có đủ mọi
h́nh thức cứu tế xă hội về mặt nhân
đạo, t́nh nghĩa đồng bào, nhưng về lănh vực
quan hệ xă hội dựa trên quyền lợi, ai cũng
nh́n nhận người Việt Nam ít có tinh thần tin
cậy chấp nhận nhau, hợp tác làm ăn chung vừa
mưu lợi riêng vừa ích quốc lợi dân. Không
những không hợp tác mà khi thấy người khác làm
lại phá chỉ v́ việc làm dù tốt, nhưng do
người khác làm nên phá, "gà ghét nhau tiếng gáy".
Phong trào Minh Tân đưa ra khẩu hiệu chống
chệc, chống chà, hô hào tẩy chay hợp tác, với
người Tàu, người Chà, và vận động
người Việt Nam hợp tác với người
Việt Nam, hùn vốn dùng đồ người Việt Nam
làm ra... Không phải chỉ là kêu gọi, cổ vơ, mà c̣n có
rất nhiều bài phân tích, phê phán tâm lư chống ngoại
bang về chính trị th́ đồng t́nh, hợp nhất
hăng say, nhưng lại phục người nước
ngoài về kinh tế, thương mại, đi mua hàng
chỉ đến tiệm các chú, v́ chỉ tin các chú...
Tóm lại chỉ bày tỏ
ḷng yêu nước, niềm tự hào dân tộc nhưng
không phát huy ??? ḷng yêu nước, nên trên b́nh diện chính
trị tự ái dân tộc trên b́nh diện kinh tế,
thương mại. Từ phong trào Minh Tân đến bây
giờ, đă có nhiều chiến dịch hô hào chống
hàng ngoại, dùng hàng nội, nhưng nào có kết quả
bao nhiêu v́ tâm lư dân tộc kể trên, không phân biệt Nam
Bắc. ( Ông Đào Công Tiến, hiệu trưởng
Trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh đi thăm Nam Triều Tiên về đă
nhận xét Nam Triều Tiên về mặt kinh tế, trên
thị trường hầu như chỉ thấy hàng
nội địa, trong các khách sạn sang trọng
những thứ như rượu, thuốc lá, hầu
hết đều là hàng trong nước. Về mặt xă
hội, phong cách dân tộc, truyền thống trong cách
ăn mặc, tiếp xúc, lối sống nói chung và khá
đậm nét (Tuổi trẻ chủ
nhật, ngày 14-10-1990, trang 3).
Đây là một nét tiêu
cực, hạn chế rất lớn cần t́m hiểu
để khắc phục. Bao lâu ḷng yêu nước chỉ
được nh́n qua những đấu tranh chính trị,
quân sự, bao lâu vẫn c̣n quan niệm chỉ
ngưỡng mộ như anh hùng dân tộc, những nhân vật
quân sự có chiến công oanh liệt, không phải những
người làm cho dân no ấm, hay giảm bớt lao
động cực nhọc, bao lâu c̣n đề cao thái
độ khinh chê giàu có, coi như một tội, trân
trọng cái nghèo thanh cao dựa vào một quan niệm nào
đó về truyền thống dân tộc về Nho Lăo
Phật, Kitô giáo, cộng sản, th́ tâm lư kể trên vẫn
là một cản trở đáng kể đà phát triển.
Tóm lại, chúng tôi nghĩ
rằng Việt Nam không phát triển được do
nhiều nguyên nhân, có lẽ nguyên nhân chính trị là quyết
định và các nguyên nhân phụ thuộc khác như tâm lư
dân tộc, sự can thiệp, đô hộ lâu dài của
ngoại bang, một cách hiểu nào đó về các tôn giáo,
ư thức hệ du nhập từ bên ngoài.
Cuối năm 1990
Nguyễn Văn Trung
* * *
THƯ MỤC
A - Sách báo giới thiệu
I. - Báo:
- Gia Định báo: Một ít
số vào thời kỳ 1882
- Miseellanées Thông loại khóa
tŕnh. 18 số từ đầu 1888 đến cuối 1889.
Miscellanées ou lectures instructives pour les élèves des écoles primaires,
communales et cantonales par P.J.B Trương Minh Kư SAIGON Imp.
commerciale Rey et Curil 1888.
- Nam Kỳ Nhựt Tŕnh
mỗi tuần lễ in một lần nhằm ngày thứ
năm Directeur: A. Schreiner, 53 rue Nationale SAIGON số 1 ra ngày 21
Octobre 1897. Đọc 120 số.
- Nam Kỳ Địa
phận: Semaine religieuse. Imp. de la Mission Tân Định SAIGON,
từ số 1 ngày 26-11-1908 đến số 1849 (1-3-1945)
- Nông Cổ Mín Đàm: Imprimerie
Librairie Claude et Cie. Gérant Canavargio. 200 số đầu
từ số 1 - 1-8-1910.
- Lục Tỉnh Tân Văn:
Imp. Saigonnaise Lê Văn Thông, 39 rue Catinat Gérant: Nguyễn An
Khương, 52 số đầu từ số 1 - 15-1-1907.
II. Sách, tài liệu:
- Băng Thanh. Cải án Cao
Đài: SAIGON 1929
- Biến Ngũ Nhy. Kim
Thời dị sử. Imp. Moderne L. Héloury S. Moutégout SAIGON 1921.
- Bữu Đ́nh. Mảnh
trăng thu. Imp. Xưa Nay - SAIGON 1931.
- Đức Mathêu. Hạnh Cha
Minh và Lái Gẫm tử đạo. Hạnh Á Thánh Marchand
(Du.) Imp. Tân Định
SAIGON 1902.
- Đào Trinh Nhất. Cái án Cao
Đài. Imp. Commerciale SAIGON 1929.
- Đặng Thúc Liêng. Lê
Văn Duyệt. Imp. Bảo Tồn - SAIGON 1934.
- La Laurette et Vilmont. Le Caodaisme,
bản đánh máy SAIGON 1933
- Lê Hoàng Mưu. Tô Huệ Nhi
ngoại sử. Imp. de l'Union SAIGON 1920.
- Oán hồng quần (Mộng
Huê Lầu biệt hiệu) SAIGON 1920
- Oan kia theo măi. Imp. Nguyễn
Văn Viết. SAIGON 1922.
- Người bán ngọc. Imp.
Đức Lưu Phương SAIGON 1931.
- Hồ Biểu Chánh. Chúa tàu
Kim Quy. Imp. Lửa hồng SAIGON
Cay đắng mùi đời.
Imp. de l'Union NGUYỄN VĂN CỦA - SAIGON 1925.
Ngọn cỏ gió đùa. Imp.
Nguyễn Khắc. SAIGON 1929.
- Chưởng Hậu Quân Vơ
Tánh. Imp. Nguyễn Văn Viết SAIGON 1926.
- Nam Cực Tinh Huy. Imp.
Đức Lưu Phương. SAIGON 1925.
- Nguyễn Chánh Sắt.
Chăng Cà Mun. Tuần báo Nhân loại số 1 (22-8-1958)
đến số 8 (15-12-1958) SAIGON.
- Trinh thám tiểu thuyết.
Nông Cổ Mín đàm từ 1-11-1917.
- Thằng ăn trộm
mặc áo đen. Nông Cổ Mín đàm từ 23-7-1920.
- Việt Nam Lê Thái Tổ. Imp.
Đức Lưu Phương SAIGON 1929.
- Ngọc Minh (Charles).
Truyện ông Gioăn Ngô Kim Thạch. Nam Kỳ địa
phận từ số 403 (1916) đến 451 (1917)
- Nguyễn Văn Mai. Nam
Việt lược sử - SAIGON 1919.
- Nguyễn Văn Sanh. Annam
sử truyện - Nam Kỳ địa phận từ
số 209 (1913) đến số 337 (1915).
- Pierre Annam. Tích quan Tả quân
Lê Văn Duyệt. Nam Kỳ địa phận số 154
(7-12-1911), số 157 và 158 (4-1-1912).
- Phạm Minh Kiên. Việt Nam
anh kiệt. Tấn Đức Thư xă. SAIGON 1952.
- Lư Thường Kiệt dă
sử.
- Tính (Michel). Chồn cáo tự
sự. Phát Toán Lib. Imp. SAIGON 1910.
- Trương Hoan. Nguyễn
Tuyết Hoa. Imp. Đức Lưu Phương. SAIGON 1930.
- Trương Vĩnh Kư. Cours
d'histoire annamite. Imp. de gouvernement I, II - SAIGON 1837.
Souvenirs historiques sur Saigon et ses
envisons trong Excursions et
Reconnaissances. Imp. Coloniale - SAIGON 1885.
- Chuyến đi Bắc
kỳ năm Ất Hợi 1876. BSEI Tome IV. No 3 - SAIGON 1929.
- Trương Duy Toản. Phan
Yên ngoại sử, Tiết phụ gian truân F.H. Schneider Imp.
Editeur SAIGON 1910.
- Tân Dân Tử: Giọt máu chung
t́nh. Phạm Văn Cường xuất bản lần
thứ 8 - SAIGON 1954.
- Gia Long tẩu quốc. Nhà
xuất bản Bảo Tồn. SAIGON 1926.
- Vô Danh. Sử kư Đại
Việt. Imp. de la Mission, lần 5. SAIGON 1909. Wener (Jayne Susan):
Peasant polities and religious sectarianisme peasant and priesf in the Cao
Đài in Viet Nam. Yale University Saithiat Asia Etudies 1981.
B. Sách báo tham khảo:
-Bùi Xuân Bào. Le roman vietnamien
contemporain. Tendance et Evolution du roman Vietnamien contemporain. Tủ
sách Nhân văn xă hội - SAIGON 1972.
- Baudrit (André). Guide historique des
rues de Saigon. SILI SAIGON 1943.
- Bonifacy. Les débuts du christianisme
en Annam Disorigines au 18è siècle - HANOI 1930.
- Rouchot (Jean). Un savant et un
patriote cochinchinois P.J.B.Trương Vĩnh Kư. Edition
Nguyễn Văn Của SAIGON 1927.
- Buijtentruijs. Anthropologie
révolutionnaire, comment faire dans Les temps modernes Juin-Juillet PARIS 1971.
- Cadière. Documents relatifs à l'époque
de Gia Long, BEFEO, 12-7-1912.
- Chesnaux J. Contribution à l'histoire
de la nation Vietnamienne - Ed. Sociales PARIS 1955.
- Coulet G. Les sociétés secrètes en
terre d'Annam. Imp. commerciale, C. Ardin - SAIGON 1926.
- Chu Thiên. Nhà Nho. Nhà xuất
bản Đồ Chiểu SAIGON tái bản.
- Đào Đăng Vỹ.
Lịch tŕnh tiến hóa của văn học và tiểu
thuyết hiện đại. Văn học tuần san
số mùa xuân 1-2-1939 SAIGON.
- Evolition de la littérature et de la
pensée vietnamienne depuis l'arrivée des francais jusqu'à nos jours (1865 -
1940). Ed. Tao Đàn Huế Imp. de l'Union Nguyễn Văn
Của - SAIGON 1944.
- Dương Quảng Hàm.
Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học
liệu xuất bản. SAIGON 1968.
- Durand (M.) et Nguyễn Trần
Huân. Introduction à la littérature vietnaminne. Collection UNESCO. G.
Maisonneuve et larose - PARIS 1969.
- Đông Hồ. Văn học
miền Nam. Quỳnh Lâm - Văn nghệ xuất bản
SAIGON 1970.
- Hồ Biểu Chánh, nhà
văn bạch thoại miền Nam. Tạp chí VĂN số
80 - SAIGON 15-4-1967.
- Đào Công Tiến. Trả
lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ chủ nhật
ngày 14-10-1990.
- Đào Văn Hội. Tân An
ngày xưa. Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách
văn hóa xuất bản - SAIGON 1972.
- Desroches (H). Socialismes et
sociologie religieuse. Ed. Cujas - PARIS 1965.
- Fantapié (A). Le français, miroir des
français. Express 4-4-1980 PARIS.
- Launay (A). Documents historiques sur
les missions de Cochinchine (1781 - 1823) tome 3 - PARIS 1925.
- Lardes. Notes sur le Quốc
ngữ. BSEI 1er semestre 1886.
- Lubanski (Lieut. colonel). L'indochine
francaise en 1902. Revue Indoch. No 264 - 9-11-1903.
- Lê Thọ Xuân. Theo dấu Cao
hoàng. Báo Thanh niên số 3 ngày 18-9-1943 - SAIGON.
- Lê Sum. Việt Nam thi
tuyển. Imp. Viết - SAIGON 1919.
- Lê Văn Siêu. Văn học
sử thời kháng Pháp (1858 - 1945). Trí Đăng 1974 SAIGON.
- Marty (Louis). Gouvernement général de
l'Indochine. Contribution à l'histoire des mouvements politiques de l'Indochine
française. Document vol. VII de Cao Đài 1926 - 1934.
- Nguyễn Trần Huân. Le roman
Vietnamien contemporain. Etudes interdiseplinaire sur le Viet Nam. Volume I
SAIGON 2è semestre 1974.
- Nguyễn Văn Tố. Pétrus
Kư (1837 - 1898) Bul. de la Société d'enseignement mutuel du Tonkin. Janv-Juin
1937 Imp. Tân Dân HANOI 1937.
- Nguyễn Phu. Viễn
tượng văn nghệ miền Nam. Bách khoa số 88
SAIGON 1960.
- Nguyễn Sinh Duy. Cuốn
sổ b́nh sanh của Trương Vĩnh Kư.
- Phạm Long Điền. Nam
Sơn SAI GON 1975.
- Nguyễn Văn Trung.
Chữ, văn quốc ngữ - Nam Sơn SAIGON 1974 Chữ
dịch Nam Phong.
- Nguyên Hùng. Người B́nh
Xuyên - Nhà xuất bản Công an nhân dân HANOI 1985.
- Nguyễn Hiểu
Trường. Chân dung một quản đốc. Nhà
xuất bản Tp. Hồ Chí Minh 1983.
- Nguyễn Văn Xuân. Khi
người lưu dân trở lại. Thời mới
xuất bản SAIGON 1969.
- Nguyễn Khuê. Chân dung Hồ
Biểu Chánh. Lửa thiêng xuất bản SAIGON 1974.
- Nguyễn Viết Khanh.
Tiểu thuyết Tàu trên báo chí tiếng Việt. Báo chí
tạp san số L - Xuân 1968
- Nguyễn Tuân. Vang bóng một
thời. Cảo thơm xuất bản SAIGON 1972.
- Hoài Thanh.Thi nhân Việt Nam.
Nhà in Thụy Kư xuất bản HANOI 1942.
- Houtart (Francois). Religions et modes
de production précapitaliste. Ed. de l'Université de Bruxelle 1980.
- Huỳnh Minh Đức.
Lịch sử tiểu thuyết trong văn học sử
Trung Quốc. Tạp chí nghiên cứu văn học số
tháng 4 năm 1971 SAIGON.
- Huỳnh Văn Ṭng. Lịch
sử báo chí Việt Nam. Trí Đăng xuất bản SAIGON
1973.
- Hồ Hữu Tường.
Nhập mộng và tĩnh mộng. Văn số 80 - 1967
SAIGON.
- Phạm Thế Ngũ.
Việt Nam văn học sử, giản lược tân
biên, tập 3 Quốc học Tùng thư - 1965.
- Phạm Quỳnh. Một
tháng ở Nam Kỳ. Nam Phong số 17 - 1919.
- Phan Huy Lê. Đất Việt
phỏng vấn Giáo sư Phan Huy Lê. Báo Đất Việt
số 3 - 1986 CANADA.
Phan Khoang. Việt sử
xứ Đàng Trong 1556 - 1777. Những biến chuyển
đầu tiên trong xă hội Việt Nam khi tiếp xúc
với văn minh Âu Tây. Bách Khoa số 67 - 1959 SAIGON.
Phan Ngọc. Suy nghĩ về
thể loại thơ song thất lục bát. Tạp chí Sông
Hương tháng 9 năm 1984
Tam Lang. Cuộc đời làm
văn làm báo. Nghiên cứu văn học số 3 SAIGON 1971.
Trúc Hà. Lược khảo
về sự tiến hóa của quốc văn trong lối
viết tiểu thuyết - Nam Phong số 175, 176 - 1932.
Thiếu Sơn. Phê b́nh và
cảo luận. Văn học Tùng thư HANOI 1933.
Tạ Chí Đại
Trường. Người lính và cơ chế thuộc
địa. Bản thảo.
Taboulet (G). La geste francaise en
Indochine tome I, II Adrien Maisonneuve PARIS 1956.
Valery (Paul). Variétés, oeuvres
complètes. Paris, Pléiade
Vandermeersch (Léon). Le nouveau monde
sonisé. PUF PARIS 1986.
Viện Linh. Lược
sử tiểu thuyết Việt Nam. Tạp chí Thời
Tập số 11 - 1974.
Villard:. Etudes sur la litterature
annamite. BSEI No 8 - 1880 SAIGON.
Vương Hồng Sến.
Thử xem truyện Tàu. Hiểu cổ tập san số 2 -
1970 - SAIGON.
Vũ Hạnh. Nghĩ về
sự ham đọc các sách truyện Trung Hoa của
người Sài G̣n. Tạp chí Văn, Giai phẩm SAIGON 1973.
Vũ Quốc Thông. Pháp chế
sử. Tủ sách Đại học SAIGON 1966.
Vũ Bằng. Cái thú nhất
đời của Phú Đức, Nguyễn Đức
Nhuận Văn học số 136 - 1971 - SAIGON.
Vũ Xuân Tự. Túi bạc
Sàig̣n. Tiểu thuyết. Trung Bắc Thư xă HAINOI 1941.
Whitney (Francis). Mỹ quốc
sử lược. Bản dịch của Sở Thông tin Hoa
Kỳ SAIGON.